Duy trì hiệu suất tiêu hóa của đường ruột là mục tiêu của hầu hết của các chủ trại chăn nuôi gà. các biện pháp nhằm bảo vệ đường ruột và điều chế vi sinh vật có lợi cho hệ tiêu hóa ngày càng được chú trọng thay cho các giải pháp đến từ kháng sinh.
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức chăn nuôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến thức chăn nuôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021
Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng một chất phụ gia thức ăn chăn nuôi là Phytogenic (PFA- phytogenic feed additive) có thể giúp cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa cho gà khá hiệu quả.
Phytogenic là hợp chất có nguồn gốc từ thực vật với các tính năng nổi trội như:
– Khả năng kháng khuẩn.
– Chống viêm.
– Kháng nấm.
Bên cạnh các tác dụng tích cực đối với đường tiêu hóa, chất phụ gia thức ăn chăn nuôi phytogenic còn có tác dụng:
– Cải thiện hiệu suất tăng trưởng.
– Tăng cường thành phần thân thịt.
Mục tiêu của bài viết là cung cấp cho độc giả thêm những cách làm mới, thông tin mới đa chiều hơn trong vấn đề tối ưu hóa chi phí thức ăn trong chăn nuôi gà, nhằm góp phần giúp độc giả hoàn thiện hơn góc nhìn về vấn đề này.
Cách 1: cải thiện khả năng hấp thu của đường ruột trong chăn nuôi gà.
Có nhiều cách để chúng ta có thể cải thiện khả năng hấp thu của đường ruột, trong đó bổ sung các chất phụ gia thức ăn cũng là một cách hay.
Các nghiên cứu tương tự gần đây đều khẳng định PFA có thể giúp cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa cho gia cầm. ví dụ như nghiên cứu của Murugesan cho thấy PFA giúp cải thiện sức khỏe đường ruột bằng cách tăng cường các vi sinh vật có lợi trong đường ruột như lactobacillus, đồng thời giảm các vi sinh vật có hại như clostridium và coliform.
Phytogenic còn có tác dụng kích thích các dịch tiết của đường tiêu hóa như nước bọt, axit mật và các enzym tiêu hóa. Theo đó, một số nghiên cứu trong ngành chăn nuôi gà đã xác nhận khả năng tiêu hóa của các axit amin tại hồi tràng cao hơn bình thường đồng nghĩa với khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng của gia cầm cũng cao hơn. Kết quả được thể hiện trong bảng 1.
Tiêu hóa tốt kéo theo tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) cũng được cải thiện. Nhờ tiêu hóa protein hiệu quả hơn nên gà tăng trưởng cũng tốt hơn.
Cùng với việc nâng cao khả năng tiêu hóa của bữa ăn, các nghiên cứu cũng cho thấy lượng khí thải amoniac từ đàn gia cầm giảm đáng kể nhờ các protein trong thức ăn được tiêu hóa triệt để hơn.
Cách 2: Tiết kiệm năng lượng cho sự tăng trưởng trong chăn nuôi gà.
Một con gà khỏe mạnh sẽ tăng trưởng tốt hơn một con gà bị bệnh là điều hiển nhiên ai cũng biết bởi khi gà bị bệnh, toàn bộ năng lượng nó có hầu hết sẽ giành cho việc phục hồi các tổn thương. Như vậy, giữ cho sức khỏe đàn gia cầm luôn ổn định cũng là một trong những chiến lược quan trọng trong việc tiết kiệm năng lượng từ đó góp phần tối ưu hóa chi phí thức ăn hiệu quả trong chăn nuôi gà.
Một số nghiên cứu còn cho thấy Phytogenic còn có tác dụng chống viêm và bảo vệ các tế bào ruột.
Viêm là một phản ứng tự bảo vệ bình thường của cơ thể trước các tác nhân hóa học, vi sinh vật truyền nhiễm hay các chất độc trong thức ăn. Gà bị viêm cận lâm sàng kéo dài sẽ dẫn đến hiệu suất chăn nuôi gà giảm rõ rệt do hầu hết năng lượng đều tập trung cho việc bảo vệ tế bào chứ không tập trung cho tăng trưởng hay sản xuất trứng.
Cách 3: tối ưu hóa công thức thức ăn trong chăn nuôi gà.
Ngoài chăm sóc đường ruột và tiết kiệm năng lượng, điều chỉnh và tối ưu công thức thức ăn hợp lý như ví dụ dưới đây cũng là một cách làm mà chúng ta có thể tham khảo.
Các chất PFA có thể hỗ trợ chức năng đường ruột và cải thiện tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) lên 1-3 điểm, trên mức trung bình. Các nhà chăn nuôi gà đang tìm kiếm nhiều cách thức khác nhau nhằm nâng cao hiệu suất tiêu hóa thức ăn.
Tùy thuộc vào ngân sách và mục tiêu của từng trại, bạn cũng có thể thiết kế cho trại mình những công thức thức ăn phù hợp, hiệu quả.
Bốn kết quả chính được minh họa trong biểu đồ 2.
– Trường hợp 1 (khẩu phần bình thường) là gia cầm được cho ăn bình thường, không có thêm chất phụ gia thức ăn chăn nuôi.
– Trường hợp 2 (khẩu phần bình thường + chất phụ gia) là gia cầm được cho ăn theo khẩu phần có thêm chất phụ gia, chi phí có tăng lên đồng nghĩa với hiệu suất chăn nuôi cũng tăng lên.
– Trường hợp 3 (tiết kiệm chi phí và duy trì hiệu suất) là khẩu phần có sự tiết kiệm một số chất dinh dưỡng hơn so với bình thường nhằm giảm bớt chi phí trong việc chăn nuôi gà để thay vào đó là các thành phần mang tính chất kinh tế hơn như chất phụ gia.
– Trường hợp 4 (tăng hiệu suất, giữ nguyên chi phí), nghĩa là khẩu phần ăn có sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền hơn để duy trì chi phí thức ăn. Đồng thời tăng cường các chất phụ gia nhằm tăng hiệu suất tiêu hóa.
Kết luận:
Như vậy, ta có thể tham khảo 3 cách thức trên để tối ưu hóa chi phí thức ăn một cách hợp lý nhất:
– Tìm cách cải thiện khả năng hấp thu của đường ruột, chăm sóc đường ruột cẩn thận từ bé.
– Tiết kiệm năng lượng cho sự tăng trưởng.
– Tối ưu hóa công thức thức ăn sao cho chi phí vừa hợp lý mà lại vừa đạt được hiệu suất tiêu hóa cao.
Chìa khóa để nâng cao lợi nhuận trong chăn nuôi gà chính là nâng cao năng suất vật nuôi và một trong những yếu tố góp phần vào thành công đó chính là tối ưu chi phí thức ăn.
Hy vọng bài viết trên có thể giúp các độc giả của VietDVM có thêm những góc nhìn, những thông tin đa chiều hơn trong vấn đề này, từ đó có thể tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm sao cho phù hợp với trang trại của mình.
VietDVM team biên dịch
(theo tạp chí gia cầm thế giới)
Trong thời gian gần đây, tình hình dịch bệnh heo trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều so với những năm trước đây. Các chương trình tiêm phòng bệnh và các biện pháp hỗ trợ, trộn kháng sinh vào trong thức ăn… được áp dụng hầu hết ở các trại nhưng bệnh vẫn xảy ra liên tục và gây thiệt hại to lớn cho người chăn nuôi heo.
Bệnh xảy ra rất nhanh, trên toàn đàn heo và gây chết gần như 100 % heo con theo mẹ. Dịch tiêu chảy cấp theo nhận định của nhiều chuyên gia có thể là do bệnh Tiêu chảy thành dịch trên heo (Porcine Epidemic Diarrhoea, viết tắt là PED) hoặc do bệnh Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (Transmissible GastroEnteritis,viết tắt là TGE) gây ra. Tác nhân của 2 bệnh này tuy là 2 loại virus khác nhau nhưng đều cùng thuộc nhóm Coronavirus. Bệnh PED và TGE rất giống nhau về dấu hiệu bệnh, phương pháp phòng trị và kiểm soát, vì thế bài viết trình bày chung cho cả 2 bệnh. Năm 2010 bệnh vẫn tiếp tục xảy ra ở một số trại, thậm chí tái phát ở những trại đã từng xày ra dịch trong năm 2009. Nguyên nhân là do bà con chăn nuôi chưa áp dụng đầy đủ các giải pháp phòng chống 2 bệnh nói trên. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến bà con những vấn đề cơ bản nhất để hạn chế tối đa thiệt hại do dịch tiêu chảy cấp gây ra.
1. Dấu hiệu nhận biết dịch bệnh: khác với tiêu chảy do vi khuẩn (E. coli, Clostridium…) xảy ra trên một số ít heo trong bầy, 1 số ít bầy trong toàn đàn, thời gian xuất hiện bệnh chậm, có thể điều trị khỏi khi can thiệp bằng kháng sinh… Dịch tiêu chảy cấp xuất hiện rất nhanh (2 – 3 ngày đến 1 – 2 tuần), trên toàn đàn, kể cả heo nái (Hình 1, 2), không điều trị được bằng kháng sinh. Heo mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh nhưng nhạy cảm nhất là heo sơ sinh với tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết có thể lên đến 100 %. Heo con theo mẹ bị bệnh sẽ bỏ ăn, ói, tiêu chảy (rất lỏng, hơi vàng, mùi hôi, sữa không tiêu hóa) (Hình 3) và heo nằm thành đống, mình heo dính phân bê bết (Hình 4). Heo con theo mẹ chết rất nhanh do mất nước, mất chất điện giải, heo bị lạnh… Heo 3 tuần trở đi, heo cai sữa… nếu có biện pháp hỗ trợ sẽ vượt qua bệnh và tỷ lệ chết không đáng kể.
2. Can thiệp khi có dịch tiêu chảy cấp
– Biện pháp thú y: Vì đây là bệnh do virus gây ra nên sử dụng kháng sinh chỉ là biện pháp hạn chế thiệt hại do các bệnh phụ nhiễm bởi vi khuẩn, nhất là vi khuẩn đường ruột như E. coli, Salmonella, bệnh lỵ… Có thể sử dụng kháng sinh (loại kháng sinh mà trại vẫn sử dụng) pha vào nước uống, nước truyền dịch bù nước cho heo con.
– Vệ sinh chuồng trại và cách ly: Tăng cường vệ sinh, sát trùng, hạn chế người vào thăm trại. Biện pháp này chỉ có ý nghĩa rõ rệt nhằm mục đích phòng bệnh xâm nhập vào trong trại. Một khi dịch tiêu chảy cấp đã xuất hiện thì biện pháp này chỉ có ý nghĩa trong việc làm giảm nguy cơ phụ nhiễm, không có tác dụng chặn đứng dịch bệnh. Chú ý trong thời gian này không nhập thêm heo mới vào trại.
– Gây nhiễm nhân tạo: biện pháp này được thực hiện nhằm mục đích đẩy nhanh thời gian xuất hiện và kết thúc bệnh, cắt dịch sớm, tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng tốt nhất các biện pháp giảm thiểu thiệt hại. Việc gây nhiễm nhân tạo nếu áp dụng đúng cách cũng có thể ngăn được bệnh tiêu chảy trên một số đàn heo con sinh sau. Có thể thực hiện gây nhiễm nhân tạo như sau: lấy ruột heo con đang bị tiêu chảy, nghiền nát và hòa vào nước hoặc trộn vào trong thức ăn, có thể bổ sung kháng sinh, cho 10 heo khác uống (heo con, heo thịt, heo nái kể cả hậu bị và nái sắp sanh). Đối với nái sắp sanh cần lưu ý 2 trường hợp sau:
+ Trường hợp 1: nái sắp sanh trong vòng 1 – 2 tuần, khi được gây nhiễm nhân tạo cả mẹ và con sau này sinh ra đều bị dịch tiêu chảy cấp.
+ Trường hợp 2: nái sanh sau 2 tuần nữa, khi được gây nhiễm nhân tạo những nái này có thể bị tiêu chảy cấp nhưng đàn con sinh ra có thể được bảo vệ. Tuy nhiên, hiệu quả phòng bệnh còn tùy thuộc vào cá thể và quy trình chăn nuôi, kiểm soát lây nhiễm…
Bà con cần chú ý biện pháp gây nhiễm nhân tạo trong dịch tiêu chảy cấp là biện pháp vô cùng cần thiết và quan trọng vì chỉ khi nào áp dụng và áp dụng đúng biện pháp nói trên chúng ta mới hạn chế được thiệt hại và ngăn ngừa nguy cơ tái phát dịch trong trại. Heo sau khi được gây nhiễm nhân tạo, nhất là heo nái sẽ có kháng thể chống lại dịch tiêu chảy cấp. Kháng thể này sẽ truyền cho heo con của lứa sau thông qua sữa, nhờ vậy heo con ở lứa sau không bị bệnh tiêu chảy cấp. Tuy nhiên, tùy theo quy trình cắt dịch và gây nhiễm nhân tạo, an toàn phòng chống dịch được áp dụng tại trại và tùy theo cá thể, hiệu quả có thể khác nhau giữa các trại và các cá thể heo nái, nhưng nhìn chung sẽ bảo vệ được đàn heo con của lứa sau chống lại bệnh tiêu chảy cấp.
– Chăm sóc, nuôi dưỡng: Giảm cho ăn 4 – 5 ngày, cho ăn lại ½ khẩu phần, tăng khẩu phần từ từ… mục đích của biện pháp này nhằm giảm nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn đường ruột và hỗ trợ sự phục hồi của niêm mạc ruột đã bị hư hại do virus tấn công. Chú ý trong thời gian này cần đảm bảo lượng nước uống đầy đủ, đảm bảo chất lượng cho tất cả các nhóm heo. Đối với heo con bị bệnh, để làm giảm tỷ lệ tử vong nên áp dụng các biện pháp sau: bù nước tích cực bằng cách cho uống trực tiếp, truyền xoang bụng… dung dịch gồm muối 9 g/lít, đường glucose 40 g/lít, có thể bổ sung thêm kẽm sulfat 0,02 % và tanin cầm tiêu chảy. Tăng nhiệt độ chuồng nuôi thêm 2 – 3°C để tăng cường ủ ấm cho heo con.
3. Chú ý sau khi dịch đã qua (sau 21 ngày): cần áp dụng các biện pháp an toàn sinh học như vệ sinh tiêu độc cẩn thận chuồng trại, người thăm viếng, phương tiện vận chuyển… Chỉ nhập heo mới về trại sau 4 tháng xảy ra dịch và chú ý biện pháp cách ly. Nếu không tuân thủ biện pháp gây nhiễm nhân tạo và biện pháp cách ly, nhập heo mới đúng thời gian, dịch tiêu chảy cấp sẽ rất dễ tái xuất hiện ở các trại đã từng bị dịch bệnh. Heo nái sau khi bệnh sẽ có miễn dịch chống lại bệnh và có thể truyền cho heo con kháng thể chống lại bệnh, vì thế không nên loại thải những nái này nếu năng suất sinh sản vẫn đạt theo yêu cầu.
PGS. TS. NGUYỄN NGỌC HẢI
Bộ môn Vi sinh – Truyền nhiễm,
Khoa Chăn nuôi – Thú y,
Đại học Nông Lâm Tp. HCM
Malaysia là một nước SX dầu cọ dừa lớn nhất thế giới. Hàng năm có tới 17 triệu tấn lá tươi được tỉa và chất thành từng đống dưới gốc cây, đó là nơi trú ngụ của côn trùng, chuột và rắn, gây hại cho SX nông nghiệp. Chương trình hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Nhật Bản (JIRCAS) và Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaysia (MARDI) nhằm nghiên cứu cách bảo quản lá cọ dừa cho động vật nhai lại.
Theo đánh giá thì mỗi ngày một ha cọ dừa cho thu hoạch từ 50 – 100kg lá tươi. Kết quả phân tích cho thấy, thành phần lá cọ dừa như sau: 31,1% chất hữu cơ, trong đó có 4,2% protein thô, lượng đạm tham gia cấu tạo màng tế bào là 22,3%. Còn lại là chất Cellulose và một số chất khoáng khác. Như vậy lá cọ dừa làm thức ăn cho động vật nhai lại rất tốt.
Bước 1: Xác định chất phụ gia thích hợp cho quá trình ủ chua.
Các nhà khoa học đã thực nghiệm bằng cách ủ lá cọ dừa thái nhỏ với acid lactic nồng độ 1,9%; urê, đường chảy trong các silo 200 lít. Kết quả cho thấy rằng, ủ chua với acid lactic và đường chảy là rất tốt nhưng chúng chỉ thực hiện tốt trong điều kiện yếm khí. Nhưng trong điều kiện yếm khí khi mở nắp silo ra thì phần trên bề mặt vẫn bị hư do trên bề mặt tiếp xúc với không khí, kích thích quá trình lên men. Còn trong điều kiện háo khí thì chúng bị hư rất nhanh, trong khi ủ chua bằng urê thì ít bị hư hơn và họ cho rằng ủ chua bằng urê là tốt nhất.
Bước 2: Xác định nồng độ urê thích hợp cho quá trình ủ chua.
Thí nghiệm tiến hành trên các nồng độ urê là 0, 1, 2 và 3%. Sau một tháng ủ chua thì các mẫu đem ra trong tình trạng háo khí. Kết quả cho thấy rằng, mẫu không có urê chỉ sau 8 giờ đã tạo ra hơi nóng, trong khi đó mẫu khác ủ chua với 1% thì hơi nóng tạo ra sau 28 giờ. Điều này cho thấy nồng độ urê chỉ cần dưới 3% cũng để ngăn cản quá trình lên men.
Phân tích thức ăn ủ chua bằng nhiều nồng độ urê khác nhau (0%, 3% và 6%). Dựa vào chất dinh dưỡng với khả năng tiêu hóa của đàn bò họ đã cho thấy, với phương pháp ủ chua nồng độ 0% urê thì chất dinh dưỡng có khả năng tiêu hóa là 46,1%, nồng độ urê 3% là 49,3%, với nồng độ 6% thì dinh dưỡng có khả năng tiêu hóa là 43,5%. Như vậy ủ chua với nồng độ dưới 3% thì không ảnh hưởng đến thành phần chất dinh dưỡng trong lá.
Bước 3: Xác định tỷ lệ thích hợp trong khẩu phần thức ăn của bò.
Trong thí nghiệm này người ta sử dụng 6 con bò và trộn lẫn chất ủ chua cùng với thức ăn xanh theo tỷ lệ 10%, 30%, 50% và đối chứng (trộn 50% chất ủ chua ở nồng độ urê là 0%). Kết quả cho thấy trộn chất ủ chua với chất xanh theo tỷ lệ dưới 30/70 (có nghĩa là 30% chất ủ chua và 70% chất xanh) thì trọng lượng thịt không giảm so với đối chứng mà tỷ lệ mỡ trong thịt có giảm xuống. Điều này chứng tỏ rằng, nếu sử dụng ủ chua lá cọ dừa với urê nồng độ dưới 3% vẫn để được lâu và vẫn dùng tốt cho động vật nhai lại.
NNVN, 8/9/2004
Các độc tố nấm mốc là các hợp chất có độc được tạo ra bởi các loại nấm mọc trên các nguyên liệu của thức ăn chăn nuôi. Những loại độc tố chính ảnh hưởng tới sức khỏe của heo gồm Aflatoxin, Vomitoxin, Zearelanone, Fumonisin và Ochratoxin. Những độc tố nấm mốc này được tạo ra bởi nấm mốc thuộc các giống Aspergillus, Fusarium và Penicillium.
1. Sự hình thành độc tố nấm mốc
Các loại độc tố nấm mốc thường được tạo thành từ một số loại nấm và dưới những điều kiện nhất định (Bảng 1). Chính vì vậy, sự có mặt của nấm mốc trên các loại thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi không đồng nghĩa với việc có mặt của độc tố nấm mốc. Hai yếu tố chính thúc đẩy việc phát triển của nấm và sản sinh ra độc tố là nhiệt độ và độ ẩm. Sự phát triển của nấm đòi hỏi lượng tinh bột có sẵn từ các loại hạt ngũ cốc, ẩm độ, không khí và nhiệt độ phù hợp, thông thường là từ 54°F đến 77°F. Mặc dù sự hình thành của độc tố nấm mốc có thể sảy ra dưới các điều kiện như trên nhưng trên thực tế sự hiện diện của các yếu tố gây stress như khô hạn, nhiệt độ môi trường cao, độ ẩm cao, thiếu dinh dưỡng, tổn thương do côn trùng và vỡ hỏng hạt khi thu hoạch cũng là những yếu tố giúp thúc đẩy việc hình thành độc tố nấm mốc (1).
Có nhiều loại nấm khác nhau có thể sản sinh độc tố các loại độc tố khác nhau nhưng theo phương thức sản xuất được chia thành hai loại: nấm trên cánh đồng và nấm trong bảo quản (2). Nấm trên cánh đồng thường phát triển trên các loại hạt trước khi thu hoạch và đòi hỏi độ ẩm tương đối cao trên 70% và tương độ ẩm của hạt trên 22% để có thể phát triển. Một trong những nấm trên cánh đồng phổ biến là loài Fusarium. Loài này có khả năng sản sinh ra các loại độc tố bao gồm Fumonisin, Vomitoxin, Zearalenone. Nấm bảo quản phát triển trên các loại hạt sau khi thu hoạch và trong quá trình bảo quản của các hạt hoặc thức ăn sản xuất từ các hạt. Những loại nấm này không cần độ ẩm quá cao, thậm chí có thể phát triển trên các hạt có độ ẩm từ 2% đến 8%. Đại diện điển hình của nấm bảo quản bao gồm Aspergillus và Penicillin, hai loại nấm này sản sinh ra độc tố Aflatoxin và Ochratoxin. Mặc dù có sự phân chia thành hai loại nấm như trên nhưng trong một số điều kiện nhất định, các loại nấm bảo quản có thể phát triển trên các loại hạt thậm chí trước khi thu hoạch và ngược lại nấm cánh đồng có thể phát triển tới cả giai đoạn sau thu hoạch. Trường hợp đại diện của loại này là Aspergillus flavus, đây là loài nấm sản sinh ra Aflatoxin. Hơn thế nữa, rất hay gặp trong thực tế đó là các loại hạt và các loại thức ăn có thể có nhiều loại nấm và nhiều loại độc tố nấm mốc trong cùng một thời điểm.
2. Nhiễm độc tố nấm mốc
Các nghiên cứu khảo sát cho thấy, nhiễm độc tố nấm mốc xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Ở nhũng vùng có thiên hướng nhiễm độc tố nấm mốc cao, ví dụ vùng khí hậu ôn đới thường có sự hiện diện của nấm cánh đồng (loài Furarium) trong khi đó tại vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thì thường có nhiều nấm bảo quản (Aspergillus và Penicillin). Khi trong vùng địa lý nào đó có các điều kiện thuận lợi cho nấm cánh đồng phát triển, thì các loại hạt của vùng đó bị ảnh hưởng mạnh của độc tố nấm mốc. Trong khi đó, nếu tồn tại các điều kiện thuận lợi cho nấm bảo quản phát triển, thì các loại hạt thường không bị ảnh hưởng như nhau bởi độc tố nấm mốc và sự phân bố của độc tố nấm mốc đa dạng hơn cả đối với các loại hạt khác nhau và cùng một loại hạt được bảo quản trong một kho chứa (3).
Nhiễm độc tố nấm mốc thường xảy ra ở trên các loại hạt như: ngô, cao lương, lúa mỳ, và lúa mạch. Ngô được xem là loại hạt có mức độ nhiễm cao nhất trong các loại hạt (1). Ngoài việc nhiễm trực tiếp vào trong các hạt, các độc tố nấm mốc còn nhiễm vào sản phẩm liên quan đến chúng ví dụ như các sản phẩm tách triết từ các hạt, phụ phẩm tạo ra từ tách triết dinh dưỡng từ các hạt. Điển hình là cho hình thức nhiễm này là DDGS ngô (Corn Distiller Dried Grains with Soluble) (1). Quá trình lên men tạo ra DDGS sẽ dẫn tới việc loại bỏ hầu hết các tinh bột trong hạt ngô, nếu hạt ngô bị nhiễm độc tố nấm mốc, các độc tố này hoàn toàn không bị phá hủy, biến mất trong quá trình lên men, trái lại nó thường được cô đặc lên tới ba lần so với ngô hạt ban đầu (3).
3. Các loại độc tố nấm mốc chính ảnh hưởng tới sức khỏe heo
Trong số các vật nuôi trang trai, heo là loài mẫn cảm mạnh với các bệnh độc tố nấm mốc (mycotoxicosis). Bệnh độc tố nấm mốc trên heo được hiểu là hiện tượng heo bị ngộ độc do ăn phải các hạt hoặc thức ăn nhiễm (chứa) độc tố nấm mốc. Mức độ của bệnh sẽ tùy thuộc vào loại độc tố nấm mốc, nồng độ của chúng có trong thức ăn, cũng như loại heo, lứa tuổi heo. Bảng 2 thể hiện các ảnh hưởng của bệnh độc tố nấm mốc đối với từng loại heo do các nồng độ độc tố khác nhau có trong thức ăn. Trên thế giới, cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã quy định ngưỡng của độc tố Aflatoxin trong nguyên liệu và thức ăn dùng cho heo choai là 20 ppb, heo giết thịt là 200 ppb.
Bệnh độc tố nấm mốc khi sảy ra thường ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan trong cơ thể với nhiều triệu chứng và bệnh tích khác nhau. Thông thường, heo con và nái mẫn cảm hơn với bệnh và các ảnh hưởng của bệnh rõ ràng hơn so với các nhóm heo khác (2). Hơn thế nữa, việc nhiễm nhiều hơn một loại độc tố trên các cá thể thường phổ biến hơn và điều này thường gây ra nhiều biểu hiện khác nhau (Vila). Mặc dù có khá nhiều dữ liệu nghiên cứu về các ảnh hưởng của một loại độc tố nấm mốc đối với sức khỏe và khả năng sản xuất của heo nhưng những khảo sát, nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiều loại độc tố nấm mốc đối với vật nuôi nói chung và heo là rất ít.
3.1. Aflatoxin
Aflatoxin (AFA) là nhóm độc tố được tạo ra bởi loài nấm Aspergillus trước khi thu hoạch và trong quá trình bảo quản. Aflatoxin B1 là loại độc tố phổ biến nhất và độc nhất trong nhóm được tạo ra bởi nấm Aspergillus flavus. (AFA) làm ảnh hưởng tới chức năng của gan và gây ức chế miễn dịch của vật nuôi (Osweiler). Nhiễm độc cấp tính (AFA) thường ít xảy ra trên heo và nếu có thì chủ yếu gây ra các bệnh tích ở gan (2). Triệu chứng chủ yếu của dạng nhiễm độc này là do chức năng gan bị ảnh hưởng sẽ gây ra xuât huyết, vàng da, chết bất thình lình. (AFA) ở liều thấp hơn thường được tích lũy trong cơ thể do đó trên heo chủ yếu là nhiễm độc mãn tính (AFA) do ăn phải thức ăn nhiễm hàm lượng thấp độc tố này trong thời gian dài. Biểu hiện chính của dạng nhiễm độc này là heo giảm lượng thức ăn tiêu thụ, giảm tăng trọng. Bên cạnh những biểu hiện chính trên thì có thể có kế phát các bệnh khác do hệ miễn dịch của heo bị suy giảm. Heo con thường mẫn cảm với bệnh độc tố nấm mốc hơn so với heo lớn hơn hoặc heo nái. Một điều cũng đáng quan tâm đó là heo con theo mẹ cũng mẫn cảm với bệnh do độc tố (AFA) do độc tố này được thải qua sữa khi con nái trong giai đoạn nuôi con ăn thức ăn nhiễm (AFA).
3.2. Vomitoxin hay Deoxynivalenol (DON)
Vomitoxin hay còn gọi là Deoxynivalenol (DON) là loại độc tố được tạo ra bởi nấm Furasium graminearum trước khi thu hoạch. DON là độc tố thường thấy nhất trong ngô, lúa mì, và DDGS ở khu vực Nam Mỹ, Châu Âu (Rodrigue) và heo là loài mẫn cảm nhất với loại độc tố này (1). Cơ chế tác động của DON là làm ảnh hưởng tới việc tổng hợp protein của tế bào cơ thể, ức chế hoạt động của hệ miễn dịch và rối loạn truyền thông tin của não bộ. Mặc dù tên gọi của độc tố này có nghĩa là gây nôn tuy nhiên nó không phải là biểu hiện chính của heo nhiễm Vomitoxin. Ngộ độc cấp tính của DON ít khi sảy ra tuy nhiên nếu sảy ra heo thường có các biểu hiện như: ỉa chảy, nôn, xuất hiện bệnh tích nghiêm trọng ở đường tiêu hóa, và chết bất ngờ. Ngộ độc DON trên heo ở thực tế chăn nuôi thường sảy ra ở dạng mãn tính. Trong hầu hết các trường hợp, heo giảm ăn rõ rệt, dẫn tới giảm tăng trọng kể cả ngay sau khi bị nhiễm độc tố lần đầu. Ảnh hưởng của DON tới khả năng thu nhận thức ăn của heo phụ thuộc vào lượng độc tố. Các thử nghiêm cho thấy trong khẩu phần ăn nếu DON có mức nhiễm khoảng 1.5 ppm, nếu cứ nhiễm tăng thêm 1 ppm sẽ làm cho heo giảm khoảng 4% lượng thức ăn thu nhận.
3.3. Zearalenone
Zearalenone (ZEA) là độc tố được tạo ra bởi nấm Fusarium graminearum trước khi thu hoạch. ZEA có cấu trúc và cơ chế tác động lên cơ thể heo tương tự như tác động của hormone sinh dục Oestrogen (4). Chính vì lý do này mà bộ máy đích của heo chịu ảnh hưởng của ZEA này là đường sinh dục. Với các heo trong giai đoạn hậu bị, một trong những biểu hiện điển hình của nhiễm ZEA là sưng đỏ âm đạo (2). Trực tràng và âm đạo bị lòi ra cũng là một biểu hiện nữa thường thấy của nhiễm ZEA. Với heo nái sinh sản, ZEA gây các biến đổi về biểu hiện động dục như kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa. Trên nái làm giống, có hiện tượng chửa giả hoặc làm sảy thai sớm ở heo đã phối. Ở nái nuôi con, ZEA có thể thải qua sữa và truyền cho con từ đó gây ra hiện tượng sưng đỏ âm đạo của heo con. Trên đực giống, ZEA làm giảm hàm lượng testosterone, giảm sản xuất tinh trùng, giảm tính hăng, đặc biệt là đực non. Tuy ZEA làm thay đổi hoạt động sinh dục bình thường của heo nhưng các hoạt động này sau trong một thời gian có thể vẫn được khôi phục trở lại nếu ngừng cho heo ăn thức có nhiễm ZEA hoặc loại bỏ ZEA khỏi khẩu phần.
3.4. Fumonisin
Fumonisins (FUMs) là nhóm các độc tố được tạo ra bởi loài nấm Fusarium trước khi thu hoạch. FUM-B1 là loại độc tố phổ biến nhất trong nhóm này và nó được tạo ra bởi Fusarium verticillioides. FUMs làm ảnh hưởng tới các chức năng sinh của tế bào, tín hiệu liên thông của các mô trong cơ thể, chủ yếu là phổi, tim, gan (5) và ức chế miễn dịch. Nhiễm độc cấp tính FUMs ở heo thường dẫn tới hiện tượng suy tin, phù phổi và hậu quả là tích nước ở trong phổi (5). Heo do chịu các biến đổi trên thường có biểu hiện rất khó khăn về hô hấp như: há miệng để thở, tím tái và có thể chết. Nhiễm độc mãn tính FUMs do ăn phải thức ăn có chứa hàm lượng độc tố này thấp trong thời gian dài và heo thường có biểu hiện giảm ăn, giảm tăng trọng và dễ bị ghép với các bệnh khác (5). FUMs cũng gây độc cho gan giống như AFA ở trên và mức độ gây độc thì phụ thuộc vào thời gian và liều lượng nó có mặt (5).
3.5. Ochratoxin
Đây là loại độc tố được tạo ra do một số loại nấm bao gồm Aspergillus, Ochraceus, Penicillium verrucosum và Penicillium viridicatum trong quá trình bảo quản. Ochratoxin A (OTA) là độc tố gây độc cho thận và gan (2). Trong hầu hết các trường hợp heo trúng độc OTA đều thấy giảm tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp mặc dù lượng thức ăn tiêu thụ không giảm (6). Trong một số trường hợp thì hiện tượng trúng độc OTA chỉ được phát hiện khi mổ khám heo. Biểu hiện điển hình của trúng độc OTA ở trên heo phát hiện giết thịt là thận sưng to, cứng và nhợt nhạt. Nhiễm độc tố OTA trên heo tiềm tàng nguy cơ rất lớn đối với sức khỏe của con người vì nó có khả năng gây ung thư (6) mà thịt heo và các sản phẩm từ heo có thể chứa độc tố này và độc tố này.
4. Phân tích độc tố nấm mốc
Đối với việc phát hiện độc tố nấm mốc thì việc lấy mẫu các hạt và thức ăn là cực kỳ quan trọng. Một đặc tính rất cần lưu ý đó là độc tố nấm mốc thường không phân bố đều trong các loại hạt hay trong các loại thức ăn. Thay vào đó, nó có thể được tìm thấy với nồng độ cao ở những điểm chủ yếu nào đó nhưng cùng thời gian đó lại không tìm thấy ở những vị trí khác. Chính vì lý do này, một mẫu lấy đề kiểm tra độc tố nấm mốc lý tưởng là mẫu mà đại diện tốt nhất cho các hạt hoặc thức ăn trong lô (kho) đó. Quan trọng hơn nữa là, việc không nhìn thấy bằng mắt thường sự xuất hiện của nấm mốc trên các hạt (mẫu) nó hoàn toàn không đồng nghĩa với việc không có độc tố nấm mốc trong mẫu hạt và thức ăn đó. Tiêu chí không có sự xuất hiện của nấm không được coi là tiêu chí đảm bảo không có độc tố nấm mốc trong mẫu (7).
Đối với số mấu có số lượng lớn hạt hoặc thức ăn, trong khu vực dự trữ, bảo quản (lấy mẫu tĩnh) các mẫu nên được thu thập từ ít nhất 10 vị trí đại diện, đều nhau. Đối với việc lấy mẫu khi đang được vận chuyển trong dây chuyền như đang sản xuất hoặc đang lưu kho (mẫu động), mẫu hạt hoặc thức ăn phải được lấy ở 10 thời điểm cách đều nhau. Đối với việc lấy mẫu các bao chứa hạt hoặc thức ăn, với mỗi lô nên lấy 10 bao ở các vị trí đều nhau trong toàn bộ lô. Đối với việc lấy mẫu từ máng ăn trong chuồng nuôi (trang trại), ít nhất 6 máng ăn được lựa chọn và lấy mẫu bằng gầu múc dò hoặc 9 máng ăn được chọn và lấy bằng tay. Ở cả hai phương án lấy mẫu, khối lượng mẫu lấy ít nhất khoảng 1 kg (8) và mẫu lấy phải chứa trong túi composite. Mẫu nên được chứa trong túi giấy khi gửi tới phòng thí nghiệm để tránh hiện tượng tăng sinh của nấm mốc, tạo thêm độc tố khi ở trong túi nhựa (8).
5. Quản lý độc tố nấm mốc trong khẩu phẩn của heo
Trong trường hợp hạt hoặc thức ăn dành cho heo bị nhiễm hoặc nghi nhiễm độc tố nấm mốc cần có ngay phương án xử lý, loại bỏ độc tố. Trong quy trình chăm sóc và cho ăn nên dành ưu tiên hàng đầu cho heo con và heo nái vì hai loại này đặc biệt mẫn cảm với độc tố nấm mốc. Ở mức độ nhiễm thấp, các hạt có thể sử dụng cho heo ăn miễn là nồng độ độc tố trong khẩu phần thấp hơn với ngưỡng ảnh hưởng sức khỏe của heo (Bảng 2). Ở nồng độ độc tố cao, các phương án xử lý khác nhau nên được áp dụng. Các loại hạt có thể dùng làm thức ăn cho các loại vật nuôi ít mẫn cảm hơn như trâu bò, hoặc được trộn lẫn với các loại hạt sạch không độc tố để giảm nồng độ (7). Phương án xử lý khác có thể tính toán đến đó là các hạt sẽ được làm sạch bằng cơ học, loại bỏ những hạt vỡ, hạt bộ lộ nhân (lõi) từ đó làm giảm hàm lượng độc tố có trong hạt bởi vì những hạt biến dạng, hạt vỡ thường có hàm lượng độc tố nấm mốc cao hơn nhiều so với hạt nguyên.
Để đảm bảo sức khỏe, sức sản xuất cho heo nói riêng và các vật nuôi trang trại khác nói chung tránh các ảnh hưởng của bệnh độc tố nấm mốc thì giải pháp tốt nhất là ngăn cản tối đa sự có mặt của nấm mốc từ ngay trong nguyên liệu dùng sản xuất thức ăn, thức ăn thành phẩm hoàn chỉnh và thức ăn cho heo tại chuồng.
Để hạn chế nấm mốc phát triển trong nguyên liệu sản xuất thức ăn cũng như thức ăn thành phẩm sau đó thì việc sử dụng chất ức chế nấm mốc là điều cần thiết và hầu như không thể tránh khỏi. Chất ức chế nấm mốc sẽ ngăn cản sự sinh sôi của các loại nấm mốc theo sau đó là giảm được sản sinh độc tố nấm. Một trong những chất ức chế nấm phổ thông với các nguyên liệu dùng cho sản xuất thức ăn chăn nuôi là các acid hữu cơ.
Trong trường hợp có nghi ngại, hoặc có lỗ hổng trong khâu ngăn cản độc tố nấm mốc có mặt trong nguyên liệu và thức ăn dẫn đến chúng có thể có mặt trong thức ăn của heo thì giải pháp tiếp theo nên triển khai đó là áp dụng phương pháp ức chế các độc tố hấp thu vào cơ thể. Bằng việc bổ sung các chất hấp phụ độc tố cùng với khẩu phần ăn, chúng tác động như là “chất keo dính, xe mang vác độc tố” có trong thức ăn từ ruột của heo ra ngoài theo phân. Các chất hấp phụ dạng chellat là điển hình cho cơ chế này. Tuy vậy cần lưu ý rằng với mỗi loại chất hấp phụ thì chỉ có tác dụng với một loại độc tố nhất định mà thôi, nó không có tác dụng với tất cả các loại độc tố nấm.